Chuyên mục: » Giới thiệu dự án FIRST
Đăng ngày 11/7/2018 Cập nhật lúc 01:07:11 ngày 11/7/2018

Thông tin chung về Dự án

Bão nói riêng, xoáy thuận nhiệt đới nói chung, là một trong những hiện tượng thời tiết nguy hiểm. Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3000 km, chạy theo hướng bắc - nam, hàng năm phải chịu ảnh hưởng của khoảng 10-12 cơn bão trên Biển Đông (Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu, 2013; Phan VT và CS, 2015). Sự xuất hiện của bão thường kéo theo mưa lớn, gió mạnh, sóng to, nước dâng ven bờ, có thể gây nên những thiệt hại lớn về tài sản và con người ở những nơi mà nó đi qua. Theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam có khoảng 100.000 tàu thuyền đánh cá, trong đó khoảng 95% được làm bằng gỗ và hầu hết là cỡ nhỏ. Sự xuất hiện của bão trên biển là mối đe doạ khủng khiếp đối với ngư dân đang đánh bắt hải sản, nhất là những trường hợp đánh bắt xa bờ. Bão cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các lực lượng tuần tra, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ,... trên biển cũng như hoạt động kinh tế - xã hội của các cộng đồng sinh sống trên các hải đảo xa xôi. Bởi vậy, những thông tin dự báo và cảnh báo bão luôn là mối quan tâm của toàn xã hội.

Trong dự báo thời tiết, dự báo bão là dự báo quĩ đạo và cường độ của một cơn bão cụ thể sau khi nó đã hình thành và đang trong quá trình di chuyển, với hạn dự báo thường là 2-3 ngày. Dự báo bão thời tiết có thể cung cấp thông tin cho việc ứng phó kịp thời với tác động của cơn bão đang hoạt động.

Khác với dự báo bão thời tiết, dự báo bão hạn mùa không dự báo cho một cơn bão cụ thể, mà cung cấp thông tin dự báo về quĩ đạo và cường độ củacác cơn bão có thể xuất hiện trong mùa tới, hoặc chi tiết hơn trong 1, 2, 3, 4, 5, 6 tháng tới.

Rõ ràng, đối với những hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra nhiều ngày, thậm chí hàng tháng, trên biển, như hoạt động đánh bắt hải sản, tuần tra, tìm kiếm cứu nạn, lập kế hoạch hành động ứng phó với thiên tai nói chung, bão nói riêng, thì hạn dự báo của các bản tin dự báo thời tiết không còn khả năng đáp ứng. Trong trường hợp này dự báo bão hạn mùacực kỳ quan trọng và cần thiết, vì nó có thể cho thông tin dự báo về số lượng, thời gian và vùng hoạt động của bão (Kim và CS, 2016; Huang và CS, 2013).

Ở Việt Nam, vì nhiều lý do khác nhau, cho đến nay chưa có một hệ thống nghiệp vụ dự báo bão hạn mùa nào. Một vài thông tin về sự hoạt động của bão cho 3 tháng tới mới chỉ được đề cập đến trong “Thông báo khí hậu” do Viện Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu (VKTTV) xuất bản hàng tháng dựa trên trung bình khí hậu và sự hoạt động của El Nino, La Nina (ENSO) (chẳng hạn, xem http://www.imh.ac.vn/nghiep-vu/cat50/34/GIOI-THIEU-BAN-TIN-THONG-BAO-VA-DU-BAO-KHI-HAU). Tình hình hoạt động của bão cũng được đề cập đến trước mùa bão hàng năm dưới dạng “một số nhận định” của Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia (TT KTTVQG). Trước nhu cầu cấp thiết của thực tiễn về thông tin dự báo bão hạn mùa phục vụ hoạt động kinh tế - xã hội trên biển và trên đất liền cũng như phục vụ công tác chủ động phòng tránh thiên tai, một số nghiên cứu đã được triển khai và đã thu được một số kết quả bước đầu (Phan VT và CS, 2015). Tuy nhiên, điều đó là chưa đủ để Việt Nam có được một hệ thống dự báo bão hạn mùa nghiệp vụ.

Trong quá trình hợp tác nghiên cứu khoa học với Trung tâm nghiên cứu Khí quyển - Đại dương (CMAR) thuộc Tổ chức nghiên cứu khoa học và kỹ nghệ (CSIRO), Australia, từ đầu những năm 2000 đến nay, và đặc biệt là trong khuôn khổ dự án hợp tác ba bên giữa Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU), CSIRO và VKTTV (http://vnclimate.vn/), nhóm đề xuất dự án này đã tìm hiểu và biết được rằng hệ thống mô hình của họ hoàn toàn có thể ứng dụng được cho bài toán dự báo bão hạn mùa ở Việt Nam. Đây là hệ thống mô hình số toàn cầu nhưng có thể tăng độ phân giải cho một miền tuỳ ý. Chúng tôi đã mạnh dạn đặt vấn đề và họ sẵn sàng chuyển giao trọn gói toàn bộ hệ thống, bao gồm cả công nghệ vận hành hệ thống mô hình theo chế độ nghiệp vụ và đào tạo cán bộ.

Nhận thấy rằng, đây là cơ hội hết sức thuận lợi để Việt Nam có được một hệ thống dự báo bão hạn mùa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, rút ngắn được thời gian và giảm thiểu rủi ro trong đầu tư nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi đề xuất dự án này.

(GS. TS. Phan Văn Tân)